Bá hộ Xường tên thật là Lý Tường Quan, sinh năm 1842, mất năm 1896. Do ông còn có tên là Xường, lại rất giàu sang nên người ta còn gọi là Bá hộ Xường hay Hộ Xường. Ở công đoạn đầu Pháp đến chiếm đoạt đóng Việt Nam, trong dân dã có câu: Nhất Sỹ, nhị Phương, tam Xường, tứ Định.
Khu tuyển mộ được xây bằng đá, có tường rào, mái che, họa tiết chạm khắc công lao. Hơn 100 năm qua nhưng quần thể chiêu mộ cổ hủ vẫn được bảo quản khá tốt.
Đây là một trong ba cũ rích chiêu mộ được TP.HCM công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật.
Mộ cụ Lý Tường Quan mang phổ quát nét rất dị của kiến trúc cũ rích Trung Hoa: có nhà mồ, mặt tiền nhà mồ có cửa vòm chính giữa, trên vòm cửa có chữ Lý (Hán tự, chỉ họ Lý); hai bên trang trí dây leo hoa lá, trái quả... Hai bên cửa tham gia có cặp liễn khắc chữ Hán (nhất thời dịch: “Nước biếc uốn quành đất phẳng, uy thế rồng xanh ứng vào chánh huyệt. Gió lành thông trăm nẻo, khí thiêng cọp trắng phù trì minh đường”).
Trước mộ có nhì bức bức tượng người, gồm một nam một nữ, mang tên là Lương Phước Thắng và Kiều Thoại Hương. Giữa nhị bức tượng là hương án bằng đá, phía trên có lư hương cũng bằng đá được tạo dáng đẹp và chạm khắc công tích. Sau lư hương là bia trước của ngôi chiêu mộ.
Bia đá có ba hàng chữ Hán (dịch nghĩa: “Phần tuyển mộ của ông hiển khảo Lý Tường Quan, nhận chức chánh đại cu li vào đời thứ 26 nhà Thanh. Ngày lành, bốn tuần tốt, năm Bính Thân: các đại trượng phu là Thanh Huy, Thanh Vân, Thanh Châu, Thanh Đẩu, Thanh Sĩ, Thanh Lan và các cháu là Văn Mạnh, Văn Quý, Văn Tài, Văn Tú, Văn Nguyên cùng lập chiêu tập”).
Sau tấm bia là mộ, với bốn mặt thành chiêu mộ bằng đá, phía trên mộ phủ cát tiến thưởng. Chiêu mộ dài 3,64 m, rộng 2,45 m, cao 0,77 m.
Nhị vách thành phải trái khắc hình các con thú: dê, khỉ, ngựa, hươu… Riêng vách thành sau khắc hình lân mã. Bốn góc tuyển mộ có các trụ vuông được chạm trổ rất tinh vi.
Mặt ngoài các cột có phù điêu hình người, chim cảnh.
Trên đầu mỗi cột trụ có chạm hình các đĩa quả đặc sản Nam Bộ như xoài, mãng cầu, thơm…
Sau chiêu mộ, có bia đá lớn khắc hơn 300 chữ Hán, nội dung là tiểu truyện và sự nghiệp của cụ Lý Tường Quan.
Một tấm hình đặt thờ trong khu cổ chiêu tập.
Trằn nhà chiêu mộ hình vòm, bốn góc trang trí hoa văn dây hoa cúc đối xứng.
Tuyến đường nét kiến trúc tinh xảo của khu chiêu tập cổ hủ.
Sân trước nhà chiêu tập còn có nhị ghế đá tựa lớn đặt ở nhị bên, khiến nơi nghỉ cho người nhà họ Lý khi tới thăm chiêu tập. Hai chân trước của ghế được tạo hình giống như nhì chân trước của con sư tử.
Mái nhà mộ được lợp ngói ống màu xanh. Trên đỉnh mái ngói có hình bán nguyệt lớn, bên trong đắp nổi vài hình như: bát nhang, lọ hoa, dĩa bánh kẹo, hai bên là nhì đầu rồng bằng gốm sứ.
Họa tiết trên mái ngói vẫn còn nguyên lành dù đã hơn trăm năm.
Bên trái nhà mồ là mộ cụ bà Nguyễn Thị Lâu - cung phi ông Bá hộ Xường. Ngôi chiêu tập không được xây hoành tráng như của chiêu mộ chồng nhưng cũng có tường bao mộ, sân tuyển mộ, bia trước, nấm chiêu tập và bia sau chiêu mộ.
Bia trước mộ của bà Nguyễn Thị Lâu.
Cả nhì ngôi chiêu mộ của ông Lý Tường Quan và bà Nguyễn Thị Lâu đều là di sản quý giá về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và chạm khắc trang trí của vietnam công đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Ở TP.HCM, ngoài cổ chiêu tập của ông Lý Tường Quan ở huyện Tân Phú, tại tuyến đường Hải Thượng Lãn Ông (huyện 5) còn một trong những căn nhà của ông sống lúc sinh thời. Ngôi nhà hiện là trong khoảng các con phố của dòng họ Lý tại Sài Gòn và cũng là di tích được TP thừa nhận, lưu giữ.
Đọc thêm: xe ô tô
0 nhận xét:
Đăng nhận xét